Tháng bảy thu sang mùa lá rụng, từng hồi chuông vang vọng khắp nhân gian, lòng người luôn hướng về sự truy tiến báo ân, đó là nét đẹp của dân tộc Việt với tinh thần hoài niệm đến những người đã khuất bên kia thế giới, trải rộng lòng từ bi đến khắp mọi loài và cũng chính là lúc cử hành lễ Khánh Đản Bồ Tát Địa Tạng, một bậc đại thệ vương“Địa ngục chưa trống thề không thành Phật, chúng sanh độ hết mới chứng Bồ đề”. Công hạnh của Ngài thể hiện niềm hiếu kính sâu sắc và lòng từ bi thương yêu chúng sanh vô hạn.

Kinh Địa Tạng Bổn Nguyện chép: Bồ tát Địa Tạng từ khi phát tâm tu hành đến nay đã trải qua vô lượng kiếp, công đức trí tuệ tương đồng với Phật, vốn ra Ngài đã thành Phật từ lâu, nhưng vì Ngài phát lời đại nguyện, nếu như chúng sanh ở trong 6 đường chưa hết thì thề không thành Phật.

Theo Chiêm Sát Thiện Ác Nghiệp Báo Kinh, quyển Thượng chép: Bồ tát Địa Tạng do vì lời bi nguyện rộng lớn ở đời quá khứ, đã thị hiện thân Đại Phạm Vương, thân Đế Thích, thân Thanh Văn, thân Diêm La Vương, cư sĩ, voi, cọp, sói, trâu, ngựa,… cho đến thân La Sát, thân ở địa ngục,… vô lượng vô số thân hình nhằm để giáo hóa chúng sanh, đặc biệt là thương xót chúng sanh trong đời ác năm trược, ứng theo lời chúng sanh mong cầu mà tiêu tai tăng phước, để thành thục căn lành cho chúng sanh, Bồ tát Địa Tạng thường biến hiện ra vô số thân để cứu độ chúng sanh như thế, cho nên gọi là một ngàn thân thể Địa Tạng. Bồ tát Địa Tạng dùng sức bi nguyện cứu độ tất cả chúng sanh, đặc biệt là thương xót chúng sanh đang chịu khổ trong cõi địa ngục mà thị hiện thân Diêm La Vương, thân địa ngục,… rộng vì khắp tất cả chúng sanh đang chịu khổ mà nói pháp giáo hóa cứu độ, nhân thế mà thông thường cho rằng Diêm La Vương là do Bồ tát Địa Tạng hóa thân.

Kinh Địa Tạng Bồ Tát Bổn Nguyện chép: Bồ tát Địa Tạng nhận lời phó chúc của Phật Thích Ca, trong khoảng thời gian sau khi Phật Thích Ca nhập diệt đến lúc Phật Di Lặc ra đời, trong thời gian không có Phật nầy, Bồ tát Địa Tạng lưu lại trong nhơn gian để cứu độ giáo hóa những chúng sanh đang chìm đắm trong địa ngục, ngạ quỉ, súc sanh, A Tu La, người, trời,… khi độ hết chúng sanh thì Ngài mới thành Phật.

Sự tích của Bồ tát Địa Tạng, trong Kinh Địa Tạng Bổn Nguyện đã nói rõ:

1/ Bồ tát Địa Tạng từ kiếp lâu xa về trước là một vị Trưởng giả, nhân vì gặp Đức Sư Tử Phấn Tấn Cụ Túc Vạn Hạnh Như Lai tướng hảo trang nghiêm sanh lòng kính ngưỡng, vì muốn chứng được thân tướng trang nghiêm nầy nên phát nguyện tột đến đời vị lai, độ hết tất cả tội khổ chúng sanh.

2/ Bồ tát Địa Tạng không thể nghĩ bàn A Tăng Kỳ Kiếp về đời quá khứ làm Bà La Môn nữ,mẹ là Duyệt Đế Lợi, không kính tin ngôi Tam bảo, tu theo tà đạo, sau khi chết bị đọa vào địa ngục chịu khổ, vì muốn cứu mẹ ra khỏi địa ngục, người nữ nầy bèn bán nhà cửa mua hoa hương phẩm vật, cúng dường chùa tháp, phát nguyện tột đến đời vị lai rộng độ tất cả chúng sanh.

3/ Bồ tát Địa Tạng vô lượng kiếp vào đời quá khứ làm một vị Quốc vương, người dân trong nước tạo nhiều tội nghiệp, nhân vì vị Quốc vương phát nguyện độ hết tội khổ của chúng sanh, đều chứng quả Bồ đề, nếu không thì thề sẽ không thành Phật.

4/ Bồ tát Địa Tạng vô lượng kiếp về đời quá khứ làm một người nữ có hiếu, tên là Quang Mục, mẹ của nàng lúc còn sống thích ăn thịt loài cá, phạm tội sát sanh rất nặng. Nàng Quang mục biết mẹ sau khi chết chắc chắn sẽ đọa ác đạo, bèn thỉnh A La Hán nhập định quán sát, quả nhiên bà mẹ ở trong địa ngục chịu khổ nạn. Nàng Quang mục vì cứu độ mẫu thân mà phát nguyện cứu vớt tất cả chúng sanh, lìa khổ được vui, đều được thành Phật thì mới thành chánh giác.

Trên đây miêu tả về công đức và hạnh nguyện rộng lớn của ngài Địa Tạng Bồ tát, thể hiện tinh thần thương xót phát ra lời thệ nguyện để cứu độ chúng sanh. Tinh thần đạo hiếu của Bồ tát Địa Tạng rất phù hợp với đạo đức truyền thống của xã hội Phương Đông, nhân thế mà được số đông kính ngưỡng, trải qua thời gian lâu dài mà không suy kém.

Hình tượng Bồ tát Địa Tạng có nhiều loại, từ đời Đường trở về trước, hình tượng đa phần là hình vị Bồ tát đầu đội mão đeo anh lạc. Nhưng sau đời Đường thì hình tượng Bồ tát Địa Tạng dùng Kim Địa Tạng làm tiêu chuẩn, biến thành hình tượng vị Tỳ kheo, thân đắp ca sa, tay trái cầm bảo châu, tay phải cầm tích trượng, hoặc ngồi trên hoa sen, mỗi chùa viện đều có điện đường cung phụng Địa Tạng Bồ tát.

Cuối tháng 7 Âm lịch là ngày Thánh đản đức Địa Tạng Bồ tát, có liên quan đến đức Kim Địa Tạng ở núi Cửu Hoa. Tương truyền, Kim Địa Tạng là một Vương tử của nước Tân La trên bán đảo Triều Tiên, tên là Kim Kiều Giác, bản tánh thông minh. Vào năm Vĩnh Huy thứ 4 (653) đời Đường, lúc ấy Ngài 24 tuổi, xuất gia làm Tăng, đi thuyền vượt biển đến Trung Quốc, dốc lòng tu hành. Trước hết chọn một hang đá ở bên sườn núi phía Đông, suốt ngày ngồi thiền đọc kinh. Sau nầy truyền thừa câu chuyện rằng có người chủ núi họ Mẫn phát tâm xây dựng chùa, lập đạo tràng. Khi Kim Kiều Giác qua đời để ngồi ở trong khám, bèn mới cho là Địa Tạng Vương. Trải qua 3 năm, mở khám ra xem, dung mạo như còn sống, mọi người lấy làm lạ, bèn lấy vàng hàn lại, vì thế gọi là Kim Địa Tạng. Nhân vì khi còn sống ngài dốc lòng tin Địa Tạng Bồ tát, lại có tướng tốt dung mạo y như Bồ tát Địa Tạng, nên mọi người cho là Bồ tát Địa Tạng hóa thân.

Núi Cửu Hoa được cho là đạo tràng của Bồ tát Địa Tạng, từ đó mà tín ngưỡng Bồ tát Địa Tạng mau chóng lan truyền khắp dân gian. Mỗi năm vào ngày 30 (tháng thiếu 29) tháng 7 âm lịch là ngày Thánh Đản đức Địa Tạng Bồ tát. Chùa chiền ngày nầy đều cử hành hoạt động Phật sự, tín chúng phải tụng “Địa Tạng Bồ Tát Bổn Nguyện Kinh”, niệm Phật, ăn chay, trì chú, thiết trai cúng dường, rộng kết duyên lành.

Trong Kinh Phật dạy: Dốc lòng niệm tụng Bồ tát Địa Tạng hoặc lễ bái cúng dường hình tượng của Bồ tát Địa Tạng thì xa lìa khổ não, không đọa ác đạo, thành tựu được 28 điều lợi ích. Trời rồng hộ niệm, quả lành ngày thêm lớn, chứa góp nhân vô lượng, không lui sụt đạo giác ngô, áo cơm đầy đủ, không bị bệnh dịch, khỏi nạn lửa nước, không có giặc hại, người thấy cung kính, quỉ thần hộ trì, chuyển nữ thành nam, làm con gái bậc vương thần, tướng tốt đẹp đẽ, sanh về cõi trời, làm bậc Đế Vương, biết rõ đời trước, cầu nguyện thành tựu, quyến thuộc an vui, tiêu sạch hoạnh tử, nghiệp ác không còn, chỗ đến thông suốt, đêm mộng điềm lành, tiên vong hết khổ, phước báu đầy đủ, các Thánh khen ngợi, thông minh lanh lợi, giàu lòng thương xót, rốt ráo thành Phật.

Bồ tát Địa Tạng “Không vì cầu an lạc cho mình, chỉ nguyện cho chúng sanh được lìa khổ”. Với tinh thần đại nguyện, cống hiến, từ bi, chúng ta cần phải tôn kính học tập theo, để cứu mình độ người ra khỏi vòng luân hồi đau khổ.